NGHỆ THUẬT LÃNH ĐẠO

NGHỆ THUẬT LÃNH ĐẠO

NGHỆ THUẬT LÃNH ĐẠO

Cổng thông tin Giáo Dục Hướng Nghiệp Việt
THÔNG TIN GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP VIỆT
Kỹ năng mềm

NGHỆ THUẬT LÃNH ĐẠO

 

                                                                                       LỜI NÓI ĐẦU

Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đánh dấu đỉnh cao của văn minh nhân loại, được kỳ vọng sẽ tạo ra những điều kỳ diệu cho cuộc sống con người. Để tận dụng được cuộc cách mạng này, mỗi quốc gia nói chung và doanh nghiệp nói riêng cần có một số yếu tố quan trọng đó là: người lãnh đạo, cán bộ quản lý sáng tạo với tầm nhìn 4.0; nguồn nhân lực chất lượng cao và cơ sở hạ tầng đồng bộ cho các phát minh, sáng tạo.

Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 (CMCN 4.0) đòi hỏi người lãnh đạo, quản lý kinh tế phải là những chuyên gia, vững về kiến thức chuyên môn có năng lực tư duy và sáng tạo, đổi mới, có kỹ năng phân tích và tổng hợp thông tin, có khả năng làm việc độc lập và ra quyết định dựa trên cơ sở phân tích các chứng cứ và dữ liệu.

Cuộc CMCN 4.0 đã làm thay đổi dần tầm nhìn của các nhà lãnh đạo, quản lý, do đó cần phải có cái nhìn đối sánh giữa các nhà lãnh đạo truyền thống và các nhà lãnh đạo thời đại 4.0 (một số người gọi là lãnh đạo số). Nghiên cứu Mark Elliot Zuckerberg (CEO, đồng sáng lập Facebook) và Elon Musk (CEO, sáng lập SpaceX) đã phân tích 7 đặc điểm nhằm tạo ra sự khác biệt giữa lãnh đạo truyền thống và lãnh đạo thời kỳ 4.0, cụ thể:

Trách nhiệm: các nhà quản lý truyền thống xác định rõ ràng trách nhiệm và vai trò theo nhóm hoặc theo chức năng; Các nhà lãnh đạo 4.0 học cách phân phối các nhiệm vụ theo tình hình và năng lực của đội nhóm, nơi mà khả năng của nhà quản lý cùng với nhân viên liên tục được liên kết; thành công có nghĩa là tất cả những người tham gia đã đóng góp thông tin và công sức trong mạng lưới của họ.

Hiệu quả công việc: các nhà quản lý truyền thống lập kế hoạch các nguồn lực và đánh giá kết quả đạt được (theo nguyên tắc, khu vực xác định ranh giới của một dự án). Các nhà lãnh đạo 4.0 kiểm soát quá trình thảo luận và lựa chọn phương án, đánh giá các nhiệm vụ và kết quả cùng các thành viên trong đội, và sử dụng các nguồn lực theo tiềm năng và thẩm quyền; các kết quả công việc được thực hiện bằng cách tích hợp các phản hồi liên tục giữa các bên liên quan trong và ngoài tổ chức.

Chia sẻ thông tin: các nhà lãnh đạo truyền thống thường phân phát thông tin theo nghĩa vụ và cung cấp dữ liệu theo “chiến lược”, từng phần (“thông tin là quyền lực”). Các nhà lãnh đạo 4.0 tạo ra một khuôn khổ thông tin minh bạch, dựa vào nền tảng trách nhiệm và chủ động trong hành vi.

Mục tiêu và đánh giá: việc đánh giá hiệu suất của nhân viên theo các chu kỳ cố định (tháng, quý, năm) là công việc của nhà quản lý truyền thống. Với lãnh đạo 4.0 việc đánh giá hiệu suất với sự trao đổi và phản hồi được thực hiện liên tục.

Sai lầm và xung đột: tránh sai lầm là tư duy của người quản lý truyền thống trước khi xảy ra mâu thuẫn. Trong khi đó, một bầu không khí cởi mở với tư duy học hỏi từ các sai lầm được xác lập bởi các nhà lãnh đạo 4.0.

Thay đổi: duy trì ngân sách, chất lượng ổn định, giảm thiểu rủi ro là ưu tiên của các nhà quản lý truyền thống. Cách làm này để lại ít chỗ cho sự sáng tạo. Trong khi nhà lãnh đạo 4.0 luôn ở mức sẵn sàng cao cho khả năng thay đổi trong công ty, cũng như khuyến khích sự nhanh nhẹn thích ứng giữa thị trường, khách hàng và nhân viên.

Đổi mới: tạo ra những ý tưởng mới cho các sản phẩm mới thường cực kỳ khó khăn đối với một nhà lãnh đạo truyền thống vì nó không phù hợp với chu kỳ hoặc quy trình bình thường. Trong khi đó, lãnh đạo 4.0 biết cách thiết kế những đổi mới dựa trên sự tập trung của nhóm vào một mục tiêu chung, nhằm tận dụng tốt nhất khả năng của mỗi cá nhân trong môi trường làm việc linh hoạt và sáng tạo.

Cuộc CMCN 4.0 đã tạo ra sự thay đổi vô cùng to lớn trong đời sống chính trị, kinh tế, xã hội. Đây chính là thách thức lớn đối với những người lãnh đạo, cán bộ quản lý của ngành kinh tế trước làn sóng của cuộc CMCN 4.0. Để giúp người lãnh đạo, quản lý kinh tế bắt nhịp với dòng chảy của cuộc cách mạng này, cần chú ý một số vấn đề sau:

Một là, vận dụng những bài học kinh nghiệm từ các quốc gia phát triển trong việc đổi mới cơ chế, chính sách, áp dụng mô hình doanh nghiệp 4.0 với người lãnh đạo kiệt xuất, doanh nghiệp tự chủ, nhân viên sáng tạo. Đồng thời, cần xây dựng chiến lược phát triển kinh tế rõ ràng, trong đó chỉ rõ sự chuyển dịch của các ngành nghề đào tạo cũng như nâng cao kỹ năng của nhân lực được đào tạo phục vụ cho cuộc CMCN 4.0.

Hai là, đổi mới phương thức lãnh đạo, quản lý kinh tế; ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý kinh tế. Đào tạo, bồi dưỡng giám đốc DN theo các chuyên đề người lãnh đạo 4.0; kết hợp học tập công nghệ 4.0 với chia sẻ kinh nghiệm giữa đồng nghiệp qua giao lưu, kiểm tra chéo, tham quan doanh nghiệp trong và ngoài nước.

Ba là, người lãnh đạo, cán bộ quản lý kinh tế cần tập trung mọi nỗ lực tạo nên những chuyển biến tích cực trong DN thông qua việc đổi mới hoạt động sản xuất, kinh doanh. Trong môi trường 4.0, công nghệ, cần phải thay đổi căn bản trên cơ sở lấy sản phẩm làm trung tâm và sự ứng dụng công nghệ trong dây chuyền sản xuất.

Bốn là, đối với khoa học – công nghệ, người lãnh đạo, cán bộ quản lý nên: (i) Đầu tư, tạo điều kiện cho những nhà khoa học, kỹ sư sáng tạo, biến ý tưởng triển vọng thành sản phẩm 4.0 thực tế; đầu tư đặc biệt cho những ý tưởng đột phá. (ii) Lấy tính sáng tạo của sản phẩm khoa học, công nghệ làm tiêu chí cao nhất để đánh giá chất lượng sản phẩm, cũng như đánh giá hiệu quả công việc và định mức thu nhập của các nhà khoa học, kĩ sư sáng chế.

Năm là, tăng cường hợp tác quốc tế trong sản xuất kinh doanh thông qua các hoạt động hợp tác đa phương, song phương như nghiên cứu khoa học, trao đổi công nghệ, dây chuyền sản xuất; đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực; Liên kết, hợp tác kinh doanh với các quốc gia phát triển trên thế giới.

Như vậy, trong cuộc CMCN 4.0, vai trò của các nhà lãnh đạo, quản lý càng trở nên quan trọng. Các quyết định cần thiết phải được đưa ra nhanh hơn và kịp thời hơn. Các hệ thống thông minh sẽ đóng góp nhiều hơn trong quá trình ra quyết định. Việc ra quyết định, ý thức trách nhiệm và kiến thức kỹ thuật có vai trò ngang nhau. Ngoài yếu tố về hạ tầng công nghệ thì hầu như thành công của CMCN 4.0 lại nằm ở chính chất lượng của đội ngũ nhân viên, ở khả năng thay đổi thích ứng liên tục của họ và nằm ở khối lượng khổng lồ các dữ liệu liên quan.

            Với cương vị của những nhà lãnh đạo quản lý, chúng ta phải chủ động trang bị cho chính chúng ta và người lao động những phẩm chất và năng lực cần thiết nhất để thích ứng với cuộc cách mạng này. Chúng ta hãy nắm lấy cơ hội mà CMCN 4.0 mang đến để tiến đến những mục tiêu và giá tị tốt hơn cho chúng ta trong tương lai.

Người lãnh đạo là năng lực cạnh tranh nòng cốt của doanh nghiệp. Công tác quản lí có thể thay đổi doanh nghiệp, nhưng thực sự muốn cải tổ doanh nghiệp thì cần phải dựa vào người lãnh đạo. Hành động của người lãnh đạo, đặc biệt là các quyết định vào những thời điểm then chốt là nhân tố ảnh hưởng lớn nhất đến sự thành bại của doanh nghiệp.

Doanh nghiệp là hệ thống đặc biệt được sáng tạo hoặc cải tạo bàn tay của con người, là một loại hệ thống năng động. Trong hệ thống này, bắt buộc phải có một người có thể điều tiết tốt những công việc như đưa ra quyết sách, chỉ huy, đốc thúc vận hành…, trù tính tốt về con người, tiền của, vật chất, tin tức đầu vào của doanh nghiệp và sản phẩm cùng với dịch vụ đầu ra phù hợp với nhu cầu của xã hội. Bởi vì chỉ có như vậy thì mới có thể cùng lúc thu được lợi ích tài chính và lợi ích kinh tế xã hội. Người này không phải là ai khác, mà chính là người lãnh đạo của doanh nghiệp. Cho nên, với tư cách là một người lãnh đạo, cần phải có góc nhìn, giải pháp và năng lực tổng quát toàn diện.                                                                                                                 

Người lãnh đạo chính là người mưu tính toàn cục, là người đưa ra quyết định cuối cùng để giải quyết các vấn đề khó khăn. Thực lực của người lãnh đạo xuất phát từ phán đoán chính xác về các thay đổi trong tương lai. Giữa kế hoạch và biến đổi, giữa nghĩ và làm, giữa tri thức và hành động có khoảng cách rất lớn. Thu nhỏ một cách tối đa những khoảng cách này chính là nhiệm vụ lớn lao của người lãnh đạo.                                                                                                                                                             

Ngoại trừ quyền lực cứng đủ để điều khiển sự phát triển của doanh nghiệp, người lãnh đạo còn cần phải có tính thích ứng. Một người lãnh đạo kiệt xuất là người có thể căn cứ vào quy mô lớn nhỏ, đối tượng quản lí và các giai đoạn phát triển khác nhau của doanh nghiệp để sẵn sàng điều chỉnh phương pháp và phong cách lãnh đạo của mình. Giống như Konosuke Matsushita từng nói: “Khi nhân viên của tôi có 100 người, tôi cần phải đứng trước mặt họ để chỉ huy; khi nhân viên của tôi có 1000 người, tôi cần phải đứng ở giữa họ, khẩn cầu nhân viên dốc sức hỗ trợ; khi nhân viên của tôi lên đến hàng chục nghìn người, tôi chỉ cần đứng phía sau họ, trong lòng cảm kích là được.”                                                                                                                                                                                                

Sức ảnh hưởng của lãnh đạo là một dạng của quyền lực mềm. Cái gọi là sức ảnh hưởng chính là năng lực khi một người tiếp xúc với người khác tạo nên tác động thay đổi hành vi và tâm lí của người kia. Sức ảnh hưởng người người đều có, nhưng mức độ của nó lại khác nhau. Hơn nữa, sức ảnh hưởng của một người cũng tùy thuộc vào từng đối tượng, hoàn cảnh…mà thay đổi. 

Với tư cách là một người lãnh đạo, cần phải nỗ lực học tập, không ngừng tiếp nhận tri thức mới, tăng thêm kĩ năng và năng lực, từ đó có thêm tài phán đoán, tài tổ chức, tài chỉ huy bài binh bố trận, tài sáng tạo theo kịp thời đại và tài ứng biến lãnh đạo và thay đổi khi cần thiết… Người Nhật có một khái niệm là “kaizen”, có nghĩa là cải tiến liên tục - nghĩa là luôn đặt câu hỏi để công việc ngày hôm nay tốt hơn ngày hôm qua. Và bạn sẽ làm tốt hơn bằng cách thay đổi. Nếu bạn dậm chân tại chỗ có nghĩa là bạn đang tạo cơ hội để đối thủ vượt lên trên.

Người lãnh đạo là trụ cột và linh hồn của doanh nghiệp, người lãnh đạo là nhân vật đứng đầu dẫn lối cho doanh nghiệp. Một người đặc biệt gánh vác đủ mọi nhiệm vụ như vậy không chỉ cần có năng lực, thực lực, kĩ năng, mà càng phải có trí lực và trực giác tinh tường để tháo gỡ rối ren, nhìn thông suốt mọi chuyện, đồng thời phải chú trọng rèn luyện suy nghĩ đa chiều, tự soi xét bản thân, không ngừng đột phá, mở rộng giới hạn của bản thân.

Nhằm đáp ứng yêu cầu đó, tập thể tác giả do Tiến sĩ Nguyễn Văn Hùng làm chủ biên, đã nghiên cứu biên soạn tập sách “Nghệ thuật lãnh đạo” gồm với 21 chương và 2 tập sẽ cung cấp kiến thức tương đối toàn diện trong lĩnh vực lãnh đạo.

TÂP 1: KHOA HỌC  LÃNH ĐẠO

Chương 1: Tổng quan về nghệ thuật lãnh đạo

Chương 2: Quyền lực và sự ảnh hưởng lãnh đạo

Chương 3: Hiệu quả của quyền lực và các chiến lược ảnh hưởng

Chương 4: Phẩm chất và năng lực lãnh đạo

Chương 5: Bản chất công việc và vai trò  người lãnh đạo

Chương 6: Phong cách  lãnh đạo và sự ảnh hưởng lãnh đạo

Chương 7: Thực tiễn lãnh đạo

Chương 8:  Lãnh đạo ra quyết định nhóm

Chương 9:  Lãnh đạo sự thay đổi

Chương 10: Lãnh đạo là nghệ thuật

TẬP 2: PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG LÃNH ĐẠO

Chương 11: Kỹ năng tư duy hệ thống lãnh đạo

Chương 12: Kỹ năng tầm nhìn lãnh đạo

Chương 13: Kỹ năng lãnh đạo xây dựng văn hóa tổ chức

Chương 14: Kỹ năng lãnh đạo tạo ảnh hưởng

Chương 15: Kỹ năng lãnh đạo kiến tạo tri thức

Chương 16: Kỹ năng ra quyết định lãnh đạo

Chương 17: Kỹ năng lãnh đạo tổ chức học tập

Chương 18: Kỹ năng truyền cảm hứng và động viên

Chương 19: Kỹ năng thuyết trình

Chương 20: Kỹ năng  giao tiếp của người lãnh đạo

Chương 21: Kỹ năng  lãnh đạo thúc đẩy bình đẳng giới

 

      Để hoàn thành tập sách “Nghệ thuật lãnh đạo”, chúng tôi đã kế thừa nhiều công trình của các nhà nghiên cứu đi trước và đương thời trong lĩnh vực Đắc nhân tâm cũng như nhiều tổ chức, cá nhân, tham gia đóng góp, bổ sung… Chúng tôi trân trọng cảm ơn các nhà nghiên cứu có tài liệu sử dụng trong cuốn “Nghệ thuật lãnh đạo” này.

            Dù đã cố gắng rất nhiều trong quá trình biên soạn nhưng chúng tôi cũng không sao tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Vì thế chúng tôi rất mong nhận được các ý kiến đóng góp, bổ sung của quý bạn đọc để “Nghệ thuật lãnh đạo” này được hoàn chỉnh hơn trong những lần tái bản sau.

            Rất mong cuốn sách trở thành tài liệu hữu ích cho bạn đọc trong học tập và tham khảo. Hy vọng tài liệu này sẽ giúp bạn thay đổi cuộc đời mình theo hướng tích cực, nhằm đạt được thành công trong cuộc sống.

Chúc các bạn thành công!

Email: hungngmd@gmail.com

 

 

 

    CHƯƠNG 1

 TỔNG QUAN VỀ NGHỆ THUẬT LÃNH ĐẠO

  • Các khái niệm cơ bản về lãnh đạo
  • Hiệu quả của lãnh đạo
  • Các tiếp cận nghiên cứu khoa học lãnh đạo
  • Khoa học lãnh đạo và nghệ thuật lãnh đạo
  • Các cấp độ của lãnh đạo

 

Trong chương này chúng ta xem xét các  khái niệm cơ bản về lãnh đạo, từ đó nghiên cứu các cách tiếp cận trong việc giải thích hiệu quả hoạt động lãnh đạo, các tiêu thức về đánh giá hiệu quả lãnh đạo. Chương này cũng giới thiệu các phương pháp tiếp cận khác nhau trong việc nghiên cứu về lãnh đạo. Khoa học lãnh đạo và nghệ thuật lãnh đạo và các cấp độ của lãnh đạo.

 

1.1. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ LÃNH ĐẠO

1.1.1. Khái niệm về lãnh đạo

            Lãnh đạo từ lâu đã là chủ đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đặc biệt của các nhà triết học, và lịch sử học, nhưng các nghiên cứu khoa học thực sự về lãnh đạo mới  xuất hiện từ những năm 30 của thế kỷ XX. Các học giả và các nhà nghiên cứu đã đưa ra hơn 350 định nghĩa khác nhau về thuật ngữ lãnh đạo và những định nghĩa này cũng thay đổi theo thời gian. Khái niệm này có thể được tiếp cận dưới góc độ tố chất, hành vi, tình huống cũng có thể được tiếp cận dưới góc độ gây ảnh hưởng hay góc độ sự tương tác qua lại. Tuy nhiên, cho tới nay bản chất của lãnh đạo đã sáng tỏ hơn nhiều, nó được xem như là một sự ảnh hưởng mạnh mẽ và rất cần thiết trong bộ máy quản lý.

Như vậy, sự lãnh đạo rõ ràng đã trở thành một đề tài quan trọng của các ngành khoa học. Mỗi quan niệm có những cách tiếp cận khác nhau về lãnh đạo và vai trò của một người lãnh đạo. Có thể dẫn ra một số định nghĩa về sự lãnh đạo như sau:

(1) Từ điển Tiếng Việt (2010) do Viện Ngôn ngữ học biên soạn: Lãnh đạo: đề ra chủ trương và tổ chức động viên thực hiện. Nếu muốn thấu hiểu cái khái niệm trên thì ta phải tra nghĩa của hai từ: chủ trương và động viên. Chủ trương là có ý định, có quyết định về phương hướng hành động và động viên: tác động đến tinh thần làm cho phấn khởi vươn lên mà hoạt động. Quản lý: tổ chức và điều khiển các hoạt động theo các yêu cầu nhất định.

(2) Từ điển Hán ngữ (Trung Quốc): Lãnh đạo: xoái lĩnh và dẫn đạo tiến lên theo một hướng nhất định. Quản lý: Tiến hành thuận lợi một loại việc được giao trách nhiệm, bảo quản và xử lý, chăm sóc đồng thời có ràng buộc chặt chẽ.

(3) “Lãnh đạo là hoạt động ảnh hưởng tới người khác nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định, mà những mục tiêu này thoả mãn được những mong muốn của mọi người” (Ordway Tead, 1935).

(4) “Lãnh đạo là quá trình gây ảnh hưởng đối với các hoạt động của tổ chức nhằm đạt tới mục tiêu đã định” (Stogdill, 1950).

(5) “Lãnh đạo là hành vi của một cá nhân khi anh ta chỉ đạo hoạt động của nhóm  để đạt tới những mục tiêu chung” (Hemphill & Coons, 1957).

(6) “Lãnh đạo là một quá trình trong đó một đối tượng thuyết phục cấp dưới hành động theo như mong muốn” (Merton, 1957).

(7) “Lãnh đạo là một hoạt động có ảnh hưởng đến người khác hoặc tổ chức để đạt được các mục tiêu do lãnh đạo” (Stogdill, 1957).

(8) “Lãnh đạo là một quá trình trong đó một đối tượng thuyết phục cấp dưới hành động theo như mong muốn” (Bennis, 1959).

(9) “Lãnh đạo là dạng đặc biệt của quan hệ quyền lực được đặc trưng bởi nhận thức của các thành viên nhóm rằng: một thành viên khác của nhóm có quyền đòi hỏi những dạng hành vi đối với các thành viên khác trong hoạt động của họ như là một thành viên nhóm” (Janda, 1960).

(10) “Lãnh đạo là quá trình tạo ảnh hưởng đối với những người cùng làm việc và thông qua họ đạt được các mục tiêu đã đặt ra trong một môi trường làm việc tốt” (Theo Ken Blanchard, 1961).

(11) “Lãnh đạo là ảnh hưởng (tác động) mang tính tương tác, được thực hiện trong một tình huống, được chỉ đạo thông qua quá trình thông tin để đạt tới những mục tiêu cụ thể” (Tannenbaum, Weschler, & Masarik, 1961).

(12) “Lãnh đạo là việc hướng dẫn và điều phối công việc của các thành viên trong nhóm” (Fiedler, 1967).

 (13) “Lãnh đạo là sự vận dụng quyền lực, là sự định hướng, dẫn dắt và kiểm tra người khác trong hoạt động quản lý” (Dictionary of Psychology của J.P. Chaplin, 1968 ).

(14) “Lãnh đạo là một quá trình hoạt động của các mối quan hệ giữa các cá nhân, bị ảnh hưởng thông qua một quá trình nhằm đạt được các mục tiêu đề ra” (Bowers, 1969).

(15) “Lãnh đạo là sự tương tác giữa những con người trong đó một người trình bày những thông tin để những người khác trở nên bị thuyết phục với những kết cục của anh ta... và kết cục này sẽ được hoàn thiện khi đối tượng cư xử theo những điều được đề nghị hoặc được đòi hỏi” (Jacobs, 1970).

            (16) “Lãnh đạo có nghĩa là thuyết phục người khác nhiệt tình theo đuổi mục tiêu nhất định” (Davis, 1977).

(17) “Lãnh đạo là sự khởi xướng và duy trì cấu trúc trong sự mong đợi và sự tương tác” (Katz & Kahn, 1978).

(18) “Sự lãnh đạo xuất hiện khi cá nhân huy động được các nguồn lực thể chế, chính trị, tâm lý…để khích lệ, lôi cuốn và thỏa mãn động cơ hành động của người khác” (Burns, 1978)

(18) “Một nhà lãnh đạo giỏi không phải do bẩm sinh mà nhờ rèn luyện. Nếu bạn có đủ khát vọng và ý chí, bạn hoàn toàn có thể trở thành một nhà lãnh đạo tài giỏi. Các nhà lãnh đạo này là người biết tận dụng và phát triển kĩ năng của mình thông qua quá trình tự học hỏi, giáo dục, đào tạo và tích lũy kinh nghiệm không ngừng” (Jago, 1982).

(19) “Lãnh đạo có nghĩa là, trong hệ thống xã hội, các hành động cá nhân, hành vi, niềm tin và mục tiêu bị ảnh hưởng những người khác theo sự hợp tác một cách tình nguyện” (Morphet, Johns và Reller, 1982).

(20) Ngay cả quân đội Mỹ cũng đã nghiên cứu vai trò lãnh đạo khá kĩ lưỡng. Một trong những định nghĩa mà họ đưa ra về lãnh đạo đó là: “Lãnh đạo là một quá trình mà một người lính ảnh hưởng đến những người lính khác để hoàn thành một nhiệm vụ”  (U.S. Army, 1983).

(21) “Lãnh đạo là mối liên hệ giữa hai người trở lên trong đó một người cố gắng ảnh hưởng đến người kia để đạt được một hay một số mục đích nào đó” (Theo Szilagyi và Wallace, 1983).

(22) “Lãnh đạo là quá trình ảnh hưởng đến những hoạt động của nhóm có tổ chức để đạt tới mục tiêu” (Rauch và Behling, 1984).

(23) “Lãnh đạo là việc biến đổi những người thuộc quyền, tạo ra những viễn cảnh của mục tiêu một cách khả thi và chỉ dẫn, giúp đỡ họ đạt được mục tiêu ấy” (Bass, 1985).

 (24) “Lãnh đạo là tạo lập các giá trị, tầm nhìn, môi trường để các mục tiêu có thể thực hiện” (Richards và Engle, 1986).

(25) “Lãnh đạo là quá trình đưa ra mục tiêu để đạt tới thông qua nỗ lực của tập thể” (Jacobs & Jaques, 1990).

 (26) “Lãnh đạo có nghĩa đáp ứng nhu cầu của nhân viên bằng cách sử dụng đàm phán, tư vấn và thỏa hiệp” (Sergiovanni, 1990).

(27) “Lãnh đạo giúp những người khác phấn đấu, tăng cường khát vọng để đạt được mục tiêu” (Jacobs & Jaques, 1990).

(28) “Lãnh đạo là mối quan hệ về chi phối và phục tùng, tác động và tuân theo trong quan hệ liên nhân cách của nhóm” (Từ điển Tâm lý học, xuất bản tại Matxcơva năm 1990).

(29) “Người lãnh đạo là thành viên của nhóm có quyền đưa ra những quyết định trong những tình huống cần thiết. Nói cách khác, người lãnh đạo là cá nhân có quyền lực, đóng vai trò trung tâm trong tổ chức hoạt động chung và điều chỉnh các mối quan hệ tương hỗ của tổ chức” (Từ điển Tâm lý học do các nhà tâm lý học Xô viết biên soạn 1990).

(30) “Lãnh đạo là các hành động tập trung nguồn lực tạo ra các cơ hội như mong muốn” (Campbell, 1991).

(31) “Lãnh đạo là khả năng bứt phá khỏi văn hoá nhằm thực hiện một quá trình thay đổi tiến hoá mang tính thích ứng cao” (E.H.Schein, 1992).

(32) “Lãnh đạo là khả năng ảnh hưởng đến nhóm để đạt được mục tiêu” (Robbins, 1993).

(33) “Lãnh đạo là quá trình làm cho mọi người trong tổ chức cảm nhận được những gì họ đang làm, từ đó mọi người sẽ thấu hiểu và cam kết thực hiện những gì họ sẽ làm” (Drath & Palus,1994).

(34) “Mục đích của việc lãnh đạo là đạt được kết quả nhờ vào những người khác và phương tiện của việc lãnh đạo là khả năng xây dựng được các nhóm có tính cố kết và định hướng rõ ràng. Người lãnh đạo giỏi là người xây dựng được các nhóm làm việc có kết quả qua các hoàn cảnh khác nhau” (Hogan, 1994).

(35) “Lãnh đạo là quá trình ảnh hướng đến cấp dưới, giúp nhân viên lấy cảm hứng để đạt được các mục tiêu, duy trì hợp tác, thực hiện các nhiệm vụ” (Yukl, 1994).

(36) “Lãnh đạo là tổ hợp về sự tương tác giữa cá nhân và nhóm. Trong nhóm, hành vi của cá nhân bị quy định và chịu ảnh hưởng của những người khác. Có một số người ảnh hưởng đến người khi nhiều hơn, họ có thể tác động tích cực hoặc tiêu cực đến người khác, có thể gọi họ là những người lãnh đạo. Sự ảnh hưởng này có thể nẩy sinh thông qua những quan hệ liên nhân cách hoặc có thể phụ thuộc vào cấu trúc quan hệ mà ở đó một số cá nhân sử dụng quyền lực hoặc trách nhiệm để tác động đến người khác” (International Encyclopedia of Psychology, 1996 ).

(37) “Lãnh đạo là công việc của người lãnh đạo nhằm tạo ra các điều kiện cho nhóm làm việc có hiệu quả” (Ginneett, 1996).

(38) “Lãnh đạo là thích ứng với sự thay đổi” (Phillip Kotter, 1990).

(39) “Lãnh đạo là  khả năng của cá nhân tác động, gây ảnh hưởng, tạo động lực cho những người khác hành động vì thành công và hiệu quả của tổ chức” (R. House, 1999).

(40) “Lãnh đạo là sự ảnh hưởng đến quan điểm, thái độ, niềm tin, tình cảm và hành vi của người khác” (Paul E. Spector, 2000).

(41) “Việc lãnh đạo đại diện cho một dạng phức tạp về việc giải quyết vấn đề xã hội” (Mumford, 2000).

(42) “Lãnh đạo là mối quan hệ trao đổi giữa lãnh đạo và cấp dưới” (Northouse, 2001).

(43) “Lãnh đạo là quá trình gây ảnh hưởng mang tính xã hội nhằm tìm kiếm sự tham gia tự nguyện của cấp dưới để thực hiện một cách tốt nhất các mục tiêu của tổ chức” (Warren Bennis, 2002).

(44) “Lãnh đạo có nghĩa là sử dụng các chiến lược hàng đầu để cung cấp cảm hứng và động lực nhằm tăng cường tiềm năng nhân viên, tạo ra sự tăng trưởng và phát triển”(Fry, 2003).

 (45)  “Lãnh đạo là tìm hiểu mối quan hệ tương hỗ giữa các cá nhân trong một tổ chức và dùng những động lực để thúc đẩy họ đạt được những mục tiêu mong muốn” (Keith Davis).

(46) “Lãnh đạo là sự gây ảnh hưởng đến con người nhằm theo đuổi việc đạt được mục đích chung” (Harold Koontz & Cyril O’Donnell).

(47) “Lãnh đạo là ảnh hưởng liên nhân cách được thực hiện trong tình huống và được định hướng thông qua quá trình giao tiếp nhằm đạt được mục đích hoặc những mục đích chuyên biệt” (Robert Tannenbaum, Irving R.Weschler và Fred Massarik).

(48) “Lãnh đạo là một quá trình mà một người ảnh hưởng đến những người khác để thực hiện một mục tiêu nào đó, đồng thời hướng tổ chức tới sự gắn kết chặt chẽ” (Northouse 200).

(49) “Lãnh đạo là quá trình ảnh hưởng tới những hoạt động của nhóm có tổ chức để đạt tới mục tiêu” (Rauch & Behling).

            (50) “Lãnh đạo là khả năng và ý chí để tập hợp mọi người nhằm tiến tới một mục đích chung là tính cách truyền sự tự tin cho người khác” (Theo Field Marshall Montgomery - vị chỉ huy quân sự xuất chúng nhất của Anh trong Thế chiến hai).

(51) “Lãnh đạo là một hoạt động gây ảnh hưởng đến con người nhằm phấn đấu một cách tự nguyện cho những mục tiêu của nhóm” (George R.Terry).

(52)  “Những nhà lãnh đạo kinh doanh tốt tạo ra tầm nhìn, xác định rõ tầm nhìn, mạnh mẽ nắm lấy tầm nhìn và không ngừng thúc đẩy nó tới khi hoàn thiện” (Thomas Hardy).

(53) “Nếu những hành động của bạn truyền cảm hứng khiến người khác mơ ước nhiều hơn, học tập nhiều hơn, làm việc nhiều  hơn và trở thành người tốt hơn bản thân họ hiện tại, thì bạn chính là lãnh đạo” (John Quincy Adams).

(54) “Lãnh đạo là nghệ thuật khiến người khác làm điều bạn muốn, bởi vì họ muốn làm điều đó” (Dwight D. Eisenhower).

(55) “Vào đầu thế kỷ tới, các nhà lãnh đạo sẽ là người trao quyền cho những người khác”(Bill Gates).

(56) “Lãnh đạo là gây ảnh hưởng” và Lãnh đạo là  khả năng thu phục nhân tâm”  (John  C. Maxwell).

(57) “ Lãnh đạo là quá trình tác động của người lãnh đạo và người được lãnh đạo nhằm đạt tới mục tiêu của tổ chức thông qua sự thay đổi” (Lussier và Achua).

(58) “Nếu những hành động của bạn khích lệ người khác mơ ước nhiều hơn, học tập nhiều hơn, và thành công nhiều hơn thì bạn là người lãnh đạo” (John Quincy Adams - Tổng thống thứ sáu của Mỹ). Triết lý của Adams chắc chắn vẫn còn phù hợp với thời hiện đại, vì nó nhấn mạnh đến khái niệm: phát triển cá nhân và vai trò ảnh hưởng của người lãnh đạo. Định nghĩa đó cũng tập trung vào “những hành động” của nhà lãnh đạo là lực đẩy cơ bản truyền cảm hứng cho mọi người đạt đến khả năng tiềm tàng của họ.

(59) Peter Senge - người đi đầu trong lĩnh vực các tổ chức học tập và là tác giả của tác phẩm The Fifth Discipline (Phương pháp rèn luyện thứ năm) - đã nói về khía cạnh truyền cảm hứng của nhà lãnh đạo theo cách khác. Ông nói: “Nó chỉ là giúp mọi người nhận thức được điều gì đang xảy ra xung quanh họ và khiến họ cảm thấy có thể vượt qua được những thử thách phức tạp đó”.

(60) Khi một lãnh đạo doanh nghiệp có tầm nhìn, ông ta sẽ có một hình ảnh hay một ý tưởng về việc tổ chức của ông nên làm gì và làm thế nào trong tương lai. Trong cuốn sách kinh điển về quản lý của mình, Dynamic Administration (Quản lý năng động), Mary Parker Follet đã nhận xét về khía cạnh sống còn này của lãnh đạo khi nói: “Nhà lãnh đạo thành công nhất là người nhìn thấy một bức tranh khác khi nó còn chưa thành hình”.

(61) Theo Harold Geneen, người lãnh đạo Công ty Điện thoại và Điện báo Quốc tế (International Telephone and Telegraph Company) trong 17 năm: “Lãnh đạo là nhân tố quan trọng nhất trong việc quản lý kinh doanh. 80% - 90% thành công của tổ chức phụ thuộc vào việc nhà lãnh đạo truyền cảm hứng để nhân viên của anh ta vượt lên”.

(62) “Lãnh đạo dựa trên sự truyền cảm hứng, không phải sự chi phối; dựa trên sự hợp tác, không phải sự dọa dẫm” (theo                 William A. Ward).

(63) Fred Smith, nhà  kinh tế học Cổ điển Anh, thế kỉ XVIII: “Lãnh đạo là ảnh hưởng”. Đây là một triết lý đơn giản nhưng rất thâm thúy; bạn có thể nắm giữ trí lãnh đạo nhưng nếu bạn không gây ảnh hưởng lên suy nghĩ và hành động người khác, bạn không phải là một nhà lãnh đạo.

(64) Tổng thống Harry Truman là Tổng thống thứ 33 của Hoa Kỳ (1945–1953) từng nói rằng: “Người lãnh đạo là người có khả năng dẫn dắt người khác làm những điều họ không mong muốn cách thích thú”.

(65) Thống chế Anh Quốc Marshal Bernard Montgomery: “Lãnh đạo là khả năng và ý chí để tập hợp tất thảy đàn ông hay phụ nữ vì một lý tưởng chung và là chí khí giúp lan tỏa sự tự tin.”

(66) “Lãnh đạo dường như là một nghệ thuật khiến người khác có mong muốn làm được những điều thực sự nên làm (Theo hiệp hội lãnh đạo quốc tế International Leadership Associates).

(67) “ Lãnh đạo là một quá trình gây  ảnh hưởng đến các hoạt động của một cá nhân hay một nhóm nhằm đạt mục đích trong tình huống nhất định” (P. Hersey và Ken Blanc Hard)

 (68) “ Lãnh đạo là nắm bắt được xu hướng phát triển của thời cuộc nguyện vọng của quần chúng; từ đó, xác định mục tiêu, truyền cảm hứng và dẫn dắt họ tự nguyện phấn đấu để thực hiện mục tiêu đó” (Vũ Khoan, 2017)

(69) “Lãnh đạo là tác động đến con người đang hoạt động, là sự hướng tới con người  nhằm biến đổi hoạt động khác của họ để đạt hiệu quả tối ưu” (Giáo trình tâm lý học của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh)

Trên cơ sở tham khảo nhiều định nghĩa trên, xem xét bản chất trong từng trường hợp. Tuy ý kiến chưa hoàn toàn thống nhất, nhưng tự trung lại, những định nghĩa về lãnh đạo luôn có điểm chung là nó bao hàm về sự tương tác giữa người lãnh đạo, cấp dưới và tình huống, nó bao gồm quá trình ảnh hưởng khi sự nỗ lực ảnh hưởng có mục đích được thực hiện bởi người lãnh đạo với người dưới quyền. Lãnh đạo hướng đến vấn đề xây dựng những giá trị nhóm, tổ chức xã hội; thúc đẩy sự phát triển nhóm, tổ chức xã hội trong điều kiện những thách thức thường xuyên xẩy ra.

         Từ các cách tiếp cận trên đây, khái niệm lãnh đạo trong tài liệu này được hiểu một cách có tính khái quát hơn về sự lãnh đạo:

          Lãnh đạo là quá trình ảnh hưởng giữa chủ thể lãnh đạo và khách thể lãnh đạo nhằm truyền cảm hứng, tạo động lực, khơi dậy cảm xúc và giữ vững cam kết để hành động vì  mục tiêu tầm nhìn  của tổ chức.

Với định nghĩa trên về sự lãnh đạo, ta thấy có một số khía cạnh cần chú ý sau:

Một là, lãnh đạo là quá trình ảnh hưởng của người lãnh đạo đến những người  dưới quyền.

Hai là, bản chất của sự lãnh đạo là sự ảnh hưởng và tác động có mục đích để đạt được những mục tiêu của tổ chức đề ra, cũng như nhằm thoả mãn mọi mong muốn của những người dưới quyền.

Khi tổng kết về những công trình nghiên cứu về sự lãnh đạo, Bass (1990) đã chỉ ra có một số cách tiếp cận chính về khái niệm lãnh đạo sau:

Một là, lãnh đạo là một nhân cách. Tiếp cận theo cách này cho rằng người lãnh đạo phải có những nét nhân cách hoặc những phẩm chất cá nhân nhất định (Bernard,1926, Jenkins,1947). Chỉ có những người có những đặc điểm nổi bật, có khả năng ảnh hưởng đến những người khác mới trở thành những người lãnh đạo, còn những người không có những yếu tố đó sẽ trở thành người bị lãnh đạo. Có thể nói, một lãnh đạo giỏi là người có nhân cách mẫu mực. Lãnh đạo là người “nói là làm” để giành được quyền chịu trách nhiệm đối với những người khác. Quyền lực chính đáng được tạo nên từ sự tôn trọng đối với nhân cách đúng đắn và tính chất đáng tin cậy của người dẫn dắt những người khác. Một số đặc điểm tính cách có thể mang đến những vai trò lãnh đạo. Đây là thuyết về đặc điểm lãnh đạo.

Hai là, lãnh đạo là sự ảnh hưởng. Khi định nghĩa lãnh đạo là sự ảnh hưởng có nghĩa là hành vi người lãnh đạo ảnh hưởng đến những người dưới quyền và người lãnh đạo mong muốn điều này (Bass,1990; House và Beetz, 1979,). Có thể nói lãnh đạo là một quá trình ảnh hưởng từ xã hội nhằm tối đa hóa nỗ lực của người khác để đạt được mục tiêu. Chúng ta cần lưu ý đến các yếu tố chính của định nghĩa về "Lãnh đạo":  Lãnh đạo xuất phát từ ảnh hưởng xã hội chứ không phải từ quyền hạn hay quyền lực. Đây có thể được xem là cách định nghĩa hiện đại nhất về sự lãnh đạo.

Ba là, lãnh đạo là hành vi. Khi nói lãnh đạo là hành vi khiến người ta dễ suy nghĩ đây là một định nghĩa đơn giản về sự lãnh đạo. Song chúng ta sẽ thấy rất rõ điều này khi tìm hiểu người lãnh đạo trong tổ chức và khi người lãnh đạo thực hiện các hành vi của mình (Fiedler, 1967; Hemphill, 1949). Có thể nói ngắn gọn Lãnh đạo là quá trình sử dụng và phối hợp hoạt động của các cá nhân trong tổ chức bằng cách gây ảnh hưởng và dẫn đắt hành vi của cá nhân hay nhóm người nhằm hướng tới mục tiêu của tổ chức.Theo các tác giả này thì sự lãnh đạo sẽ không có hiệu quả khi hành vi giám sát không được thực hiện.

Bốn là,  lãnh đạo là quyền lực. Lãnh đạo là phạm vi mà ở đó người lãnh đạo có thể sử dụng quyền lực đối với các thành viên khác của nhóm. Mặt khác, quyết định của người lãnh đạo có thể bị những người dưới quyền chống lại (French và Raven,1958). Tức là phản ứng của cấp dưới với quyền lực của người lãnh đạo. Khi nói quyền lực của người lãnh đạo được đo bằng phản ứng của những người dưới quyền thì có thể xem đó là hành vi của người lãnh đạo. Những tác giả theo cách tiếp cận này cho rằng, một số người có quyền lực và sức mạnh cần thiết có thể trở thành những người lãnh đạo tốt. Bởi vì, quyền lực là đặc điểm đặc trưng của tổ chức. Các thành viên của tổ chức đều có thể trở thành người lãnh đạo tuỳ thuộc khả năng ảnh hưởng của họ đối với những người khác. Song, chỉ có những cá nhân mà bản thân họ có đủ quyền lực mới trở thành những người lãnh đạo. Có thể nói, theo các nghiên cứu của lý thuyết lãnh đạo hiện đại, nếu hiểu lãnh đạo là quá trình gây ảnh hưởng, thì quyền lực lãnh đạo được hiểu là năng lực gây ảnh hưởng từ người lãnh đạo đối với đối tượng bị lãnh đạo. Quyền lực lãnh đạo có thể hình thành từ các nguồn quyền năng: (i) Do chức vụ bổ nhiệm (địa vị trong hệ thống); (ii) Do trình độ chuyên môn và quản trị (năng lực); (iii) Do tố chất, quyền uy bẩm sinh (tính hấp dẫn); (iv) Do phẩm chất đạo đức (nhân cách); (v) Do các quan hệ mà họ sở hữu (chính trị); (vii)Do mức độ sở hữu nguồn lực vật chất (kinh tế)…

Năm là, lãnh đạo là sự thực hiện mục đích. Sự lãnh đạo sẽ giúp tổ chức thực hiện được những mục đích của nó, đặc biệt trong những thời điểm căng thẳng (Bollons,1959; Couley, 1928). Ở đây, lãnh đạo được xem là một yếu tố có tầm quan trọng hàng đầu đối với việc thực hiện các mục đích của tổ chức. Có thể nói, lãnh đạo là quá trình sử dụng và phối hợp hoạt động của các cá nhân trong tổ chức bằng cách gây ảnh hưởng và dẫn đắt hành vi của cá nhân hay nhóm người nhằm hướng tới mục tiêu của tổ chức.

         Sáu là, lãnh đạo là mối quan hệ tương tác. Những người theo quan điểm này cho rằng, sự lãnh đạo không chỉ phụ thuộc vào hành vi, nhân cách, quyền lực... của người lãnh đạo, mà còn phụ thuộc vào phản ứng của những người dưới quyền (Danserau, Grean, Haga, 1975; Greaen, Novak, Sommerkamp, 1982; Linden, Grean, 1980). Những tác giả này còn khuyến cáo rằng mối tương tác giữa người lãnh đạo và bị lãnh đạo cần được phát triển một cách trực tiếp: “Một - Một”. Mối tương tác này rất đa dạng, có thể theo những cách thức khác nhau, tuỳ thuộc vào các đặc điểm tâm lý cá nhân, vào tính chất của công việc. Một số nhà tâm lý học còn khẳng định: Sự tương tác giữa người lãnh đạo và bị lãnh đạo là điều rất quan trọng trong hoạt động quản lý. Nó giống như thực thể của sự lãnh đạo, như là yếu tố đảm bảo cho thành công của sự lãnh đạo. Có thể nói, lãnh đạo là sự tương tác giữa người lãnh đạo, cấp dưới và tình huống. Đó là bởi vì mối quan hệ giữa lãnh đạo – cấp dưới là một quá trình không ngừng thay đổi.

Có thể nói ngắn gọn sáu cách tiếp cận được xem là những khía cạnh, những biểu hiện cơ bản của sự lãnh đạo.

Như vậy có nhiều khái niệm khác nhau về lãnh đạo, nhưng điều quan trọng chúng ta phải hiểu được rằng không có một định nghĩa nào là hoàn toàn đầy đủ. Theo tác giả, các quan niệm này tuy nhấn mạnh những sắc thái khác nhau của lãnh đạo nhưng đều nói lên hai nhân tố chung của nó là hiện tượng nhóm và quá trình ảnh hưởng của nhóm. Theo quan điểm của tác giả dù nhìn nhận theo cách nào, thì một nhà lãnh đạo phải đảm bảo được 3 yếu tố: khả năng tạo tầm nhìn, khả năng truyền cảm hứng và khả năng gây ảnh hưởng. Hiểu một cách ngắn gọn nhất, người lãnh đạo là người có khả năng tạo ra tầm nhìn cho một nhóm hay tổ chức và biết sử dụng quyền lực của mình để gây ảnh hưởngtruyền cảm hứng cho những người đi theo nhằm đạt mục tiêu của tổ chức đó.

Trích một tiểu mục trong chương1

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tiếng Việt

1. Auren Uris (2005), Nghệ thuật lãnh đạo, Nxb Thông tin

2. Lê Anh Cường, Nguyễn Thị Lệ Huyền (2004), Nghệ thuật và phương pháp lãnh đạo doanh nghiệp, Nxb Lao động Xã hội.

3. Lê Anh Cường, Nguyễn Kim Chi (2005), Lãnh đạo doanh nghiệp, những bí quyết nhỏ làm nên thành công lớn, Nxb Lao động Xã hội.

4. Dale Carnegie (Nguyễn Hiến Lê dịch), (2007), Đắc nhân tâm, Bí quyết để thành công, Nxb Tổng hợp TP HCM.

5. Joe Johnson (2003), Thuật lãnh đạo nhóm, dẫn dắt nhóm đến thành công, Nxb Trẻ.

6. John C.Maxwell (2007), Phát triển kỹ năng lãnh đạo, Nxb Thống kê

7. Nguyễn Hữu Lam (2007), Nghệ thuật lãnh đạo, Nxb Giáo dục.

8. Viện Ngôn ngữ học (2010). Từ điển Tiếng Việt, Nxb Từ điển Bách khoa

Tiếng Anh

1. Antonakis, J., Cianciolo, A., & Sternberg, R. (2004), The Nature of Leadership, Thousand Oaks, CA: Sage Publications.

2. Bass. B. (1990), From Transactional to Transformational Leadership: learning to share the vision. Organizational Dynamics, Vol. 18, No. 3, pp.19-31.

3. Bass, B., Avolio B.; Jung, D., & Berson, Y. (2003), Predicting Unit Performance by Assessing Transformational and Transactional Leadership. Journal of Applied Psychology, Vol. 88, No. 2, pp. 207-218.

4. Bennett T. (2009), A study of the management leadership style preferred by it subordinates. Journal of Organizational Culture, Communications and Conflict, 13(2), p. 1.

5. Carlton, S. (2009), Leadership Assessment: A Tool for Developing Future Hospitality Leaders, Theses/Dissertations/ Professional Papers/Capstones. Paper 435, Universitt of Nevada, Las Vegas.

6. Gary A.Yukl (2005), Leadership in Organizations, Prentice Hall International Editions

7. Rustom S.Davear (2002), Creative Leadership, S.S Mubanruk & Brother Pte.Ltd Editions

 

LƯU Ý: SÁCH SẮP XUẤT BẢN PHÁT HÀNH

 

 

 

 

 

 

                                                                     

Thông tin đăng ký

Please, enter data

Các bài khác
Quảng cáo
Quảng cáo 4
Quảng cáo 2
Quảng cáo 1
LIÊN KẾT WEB
Trường Cao đẳng Công nghệ cao Đồng An Trường Cao đẳng Đại Việt Saigon Trường Cao đẳng Công nghệ Sàigon Trường cao đẳng Kinh tế đối Ngoại Trung cấp miền Đông Viện Công nghê và quản trị Á Châu Trường Đại học Công nghệ Miền Đông  Trường Đại học Vinh Trường cao đẳng Công Thương