PHONG CÁCH LÃNH ĐẠO CỦA STEVE JOBS TẠI TẬP ĐOÀN APPLE P2

PHONG CÁCH LÃNH ĐẠO CỦA STEVE JOBS TẠI TẬP ĐOÀN APPLE P2

PHONG CÁCH LÃNH ĐẠO CỦA STEVE JOBS TẠI TẬP ĐOÀN APPLE P2

Cổng thông tin Giáo Dục Hướng Nghiệp Việt
THÔNG TIN GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP VIỆT
Kỹ năng mềm

PHONG CÁCH LÃNH ĐẠO CỦA STEVE JOBS TẠI TẬP ĐOÀN APPLE P2

CHƯƠNG IIPHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VỀ PHONG CÁCH LÃNH ĐẠO ĐỘC ĐOÁN CỦA STEVE JOBS TẠI APPLE TỪ GIAI ĐOẠN 1997-2011

2.1. Sơ lược về tiểu sử của Steve Jobs

Steven Paul Jobs (24/2/1955 - 5/10/2011) là một nhà quản trị và doanh nhân nổi tiếng người Mỹ. Ông là một trong những người sáng lập của hãng Apple và là một trong những người có ảnh hưởng lớn nhất ở ngành công nghiệp vi tính. Trước đây ông từng là tổng giám đốc điều hành của xưởng phim hoạt hình Pixar; sau đó trở thành thành viên trong ban giám đốc của công ty Walt Disney năm 2006, sau khi Disney mua lại Pixar.

Cuối những năm 1970, Steve Jobs cùng nhà đồng sáng lập Apple Steve Wozniak, Mike Markkula và một số người khác, thiết kế, phát triển và đưa ra thị trường một trong những dòng máy tính cá nhân thành công thương mại đầu tiên, dòng Apple II. Đầu những năm 1980, Jobs là một trong những người đầu tiên nhìn thấy tiềm năng thương mại của giao diện người dùng điều khiển đồ họa bằng cách sử dụng chuột dẫn đến việc ra đời Macintosh. Sau khi thất bại trong một cuộc đấu tranh quyền lực với ban giám đốc vào năm 1984, Jobs rút khỏi Apple và sáng lập NeXT, một công ty phát triển nền tảng máy tính chuyên về giáo dục và kinh doanh cao hơn. Việc Apple mua lại NeXT vào năm 1996 đưa Steve Jobs trở lại công ty mà ông là đồng sáng lập, sau đó làm việc ở đó trong vai trò tổng giám đốc điều hành từ năm 1997 cho đến năm 2011. Năm 1986, ông mua lại bộ phận đồ họa vi tính của công ty Lucasfilm, sau đó tách ra thành hãng phim hoạt hình Pixar. Ông vẫn là tổng giám đốc điều hành và cổ đông lớn nắm 50,1% cổ phần của Pixar cho đến khi hãng Walt Disney mua lại vào năm 2006.Do đó Jobs trở thành cổ đông cá nhân lớn nhất nắm 7% cổ phần và là thành viên của Hội đồng quản trị của Disney. Quá trình hoạt động kinh doanh của Steve Jobs đã đóng góp nhiều cho các hình ảnh biểu tượng mang phong cách một nhà doanh nghiệp tiêu biểu của Thung lũng Silicon.

Ngày 24 tháng 8 năm 2011, Steve Jobs tuyên bố từ chức tổng giám đốc điều hành của Apple. Trong thư từ chức, Jobs mạnh mẽ gửi gắm rằng Tim Cook là người kế nhiệm ông. Sau đó, Jobs  đã được bổ nhiệm làm chủ tịch hội đồng quản trị của Apple. Ngày 5 tháng 10, 2011, Apple loan tin Steve Jobs đã qua đời ở tuổi 56.

2.2. Thực trạng về phong cách lãnh đạo độc đoán của Steve Jobs tại Apple giai đoạn 1997-2011

2.2.1. Thực trạng về tính cách của Steve Jobs  tai Apple giai đoạn 1997-2011

Thứ nhất, là một người cầu toàn, tinh tế và yêu thích sự sáng tạo

Ông luôn yêu cầu nhân viên tỉ mỉ và không được có bất kì một sai xót nào, sự khao khát hoàn hảo và yêu thích sáng tạo thể hiện ngay những đoạn quảng cáo và sự quyến rũ của những thiết kể sản phẩm đem đến những thành công của Apple do vậy ông thường hay dồn ép và yêu cầu làm lại hầu như tất cả đối với những thiết kế, sản phẩm không hoàn hảo theo cách nhìn của ông. Ví dụ như: việc rọi đèn vào iMac trong buổi ra mắt sản phẩm (6/1998) cũng tốn không ít thời gian chuẩn bị của Jobs, cho đến khi ánh đèn soi vào sản phẩm hợp với ý của ông.

Các sản phẩm của Apple theo ý của Jobs phải quan tâm tới những chi tiết nhỏ nhất, kể cả những chiếc ốc vít ở mặt sau của sản phẩm. Thậm chí có người phải thốt lên rằng “ Jobs muốn kiểm soát đến cả đến hạt cát trong vi mạch”. Các dòng sản phẩm nỗi tiếng như iPod, iPhone, iPad từ kiểu dáng bên ngoài cho đến phần cừng và phần mềm đều đồng bộ và thể hiện nét tinh tế, sáng tạo và sự khát khao hướng tới sự hoàn hảo không ngừng.

            Thứ hai, dễ nỗi nóng với mọi người

Vào những lúc áp lực công việc lên cáo, ví dụ như khi hạn chót việc hoàn thành mẫu iMac tới gần, tính khí nóng nảy của Jobs lại càng dễ nhận thấy, đặc biệt là trong lúc ông phải đối mặt với những vấn đề sản xuất. Trong một cuộc họp đánh giá sản phẩm, ông biết được rằng quy trình sản xuất đang chậm trễ. Steve Jobs tỏ thái độ giận dữ khủng khiếp, và nỗi tức giận ấy tuyệt đối thành thực. Ông đã nỗi giận với cả nhóm làm sản phẩm với những lời lẽ rất nặng nề, bắt đầu với Rubinstein: “Các người biết là chúng ta đang cố cứu cả công ty cơ mà,” ông ta thét lên: “và các người đang làm hỏng bét mọi sự!”. Bản tính nỏng nảy cũng dễ nhận thấy khi Lee Clow - giám đốc sáng tạo của Chiat/Day,  đã chuẩn bị một loạt các mẫu quảng cáo đầy màu sắc trên tạp chí và khi ông gửi cho Jobs các trang in thử, Lee Clow đã nhận hồi đáp là một cuộc điện thoại điên cuồng tức giận. Màu xanh dương trong mẫu quảng cáo, Jobs khẳng định, khác với màu xanh của chiếc iMac và Jobs đã hét vào Lee Clow: “Các người chẳng hề biết các người đang làm gì!” Jobs thét lên: “Tôi sẽ bảo người khác nhận phần quảng cáo, vì mấy thứ này thật khốn kiếp”.

Thứ ba, là con người có tham vọng, muốn kiểm soát mọi thứ

Sau khi được bổ nhiệm làm chuyên viên tư vấn cho Amelio, Jobs ngay lập tức đẩy những người ông tin tưởng vào những vị trí cấp cao ở Apple. Jobs cần đảm bảo chắc chắn rằng những người thực sự giỏi đến từ NeXT không bị “đâm sau lưng” bởi những kẻ kém hơn đang giữ những vị trí cốt cán ở Apple. Để điều hành mảng phần mềm, ông sử dụng người bạn Avie Tevanian của mình. Để nắm mảng phần cứng, ông đã chọn Jon Rubinstein, người đã nắm vị trí tương tự ở bộ phận phần cứng của NeXT. Tất các nhóm làm sản phẩm, từ công đoạn thiết kế cho đến hoạt động quảng bá cho sản phẩm đều được Steve Jobs kiểm soát chặt chẽ theo những tiêu chuẩn của ông.

Khi Jobs quay về Apple với vai trò là người cố vấn dẫn dắt Apple vực dậy, chỉ trong 90 ngày để tìm kiếm CEO mới cho Apple , Jobs tiếp tục sôi lên khi phải trả lời trước ban quản trị mà ông không tôn trọng. “Hãy dừng đoàn tàu lại, nó sẽ không có kết quả,” ông nói với Woolard. “Công ty này đang phải vật lộn để tồn tại, và tôi không có thời gian để làm vú nuôi cho ban quản trị. Vì vậy tôi cần tất cả các ông rút lui. Hoặc tôi sẽ rút lui và không quay trở lại vào thứ hai tới”. Và sau đó, ông buộc họ phải từ chức, rút lui và ông kiếm người vào các vị trí đó.

Thứ tư, là người quyết đoán

Jobs vô cùng quyết đoán và mạnh mẽ với các quyết định của mình. Khi ông thấy gì đúng, ông sẽ bỏ mặc tất cả sự phản đối hay những chê trách của người ngoài để dự tình của mình. Khi Jobs vừatrở lại Apple trong thời kì đen tối nhất của Apple - giá cổ phiếu trượt giá liên tiếp và không phanh, quyết định đầu tiên của ông là phải hạ giá cổ phiếu ưu đãi, tất cả các bộ phận tài chính đều phản đối ông, họ nói cần 2 tháng để họ nghiên cứu vấn đề này nhưng ông nhất quyết làm và” Phải làm ngay” và ông đã thành công khi giá cô phiếu từ 13 đôla tăng lên 20 đôla chỉ trong cùng một tháng.

Quyết định chỉ tập trung sản xuất hai dòng sản phẩm máy để bàn, xách tay theo hai dòng là phổ thông và cao cấp, mặc dù các kỹ sư của ổng khá giận dữ nhưng đa phần họ đã bị Jobs thuyết phục.Kết quả là các kỹ sư và quản lý ở Apple lập tức chỉ tập trung cao độ vào bốn lĩnh vực. Với mảng máy để bàn cao cấp, họ phát triển Power Macintosh G3. Với mảng máy xách tay cao cấp họ phát triển PowerBook G3. Với máy để bàn phổ thông, họ bắt đầu với thứ sau này trở thành iMac. Và cuối cùng với máy xách tay phổ thông, họ tập trung vào thứ sẽ trở thành iBook. Chữ “i”, Jobs giải thích, là để nhấn mạnh các thiết bị này sẽ được tích hợp chặt chẽ với Internet. Sau 2 năm gây sửng sốt với việc thua lỗ, Apple lại có thể vui vẻ với một quý lợi nhuận, kiếm được 45 triệu đô la. Trong cả năm tài chính 1998, nó trở thành 309 triệu đô la lợi nhuận. Jobs đã quay trở lại, và Apple cũng thế. Đó là minh chứng cho sự quyết đoán và khả năng năm bắt vấn đề “cốt lõi” nhanh của Steve Jobs. Ngoài ra sau khi cải tiến cho iMac, Jobs quyết định sẽ không gắn kèm cả ổ đĩa mềm vốn thông dụng. Jobs trích dẫn câu cách ngôn của siêu sao khúc côn cầu Wayne Gretzky, “Hãy trượt đến chỗ trái banh văng tới, chứ không phải chỗ nó đã từng xuất hiện.” Jobs có phần đi quá thời cuộc, nhưng cuối cùng đa phần máy tính đều đã loại bỏ ổ đĩa mềm.

Thứ năm, Jobs có thể rất cay độc và lạnh lùng, đặc biệt với những người có xung đột với ông, nhưng cũng có thể rất tình cảm với nhưng người đã đồng hành cùng ông từ những ngày đầu. Ví dụ: khi yêu cầu Mike Markkula rời khỏi ban quản trị Apple, Jobs đã lái xe đến tận nhà và thực hiên một cuộc dạo bộ thân mật để bàn về tương lai của Apple.

Thứ sáu, ở một số thời điểm khác nhau, Jobs thể hiện sự trộn lẫn lạ thường giữa tính cáu bẳn và sự thiếu thốn. Ông thường không mảy may quan tâm tới người khác nghĩ gì về mình; ông có thể đoạn tuyệt với người khác và không bao giờ nhìn tới họ lần nữa. Một số thời điểm khác, ông lại cảm thấy sự ép buộc phải giải thích về mình. Ví dụ: Buổi tối ngày hôm Amelio bị sa thải bởi hội đồng quản trị Apple, Jobs đã gọi và giải thích : “Gil, tôi chỉ muốn anh biết, tôi đã nói chuyện với Ed hôm nay về chuyện này và tôi cảm thấy thực sự tòi tệ về nó. Tôi muốn anh biết tôi không có liên quan gì tới chuỗi sự kiện này, đó là quyết định ban quản trị đã đưa ra, tuy nhiên họ có mời tôi với vai trò tư vấn.” Jobs nói với Amelio rằng mình tôn trọng ông vì là “người chính trực nhất mà tôi từng được gặp,” và theo đó là một số lời khuyên một cách tự nguyện. “Hãy nghỉ ngơi 6 tháng,” Jobs nói với ông ta. “Khi tôi bị ném khỏi Apple, tôi lập tức quay lại với công việc, và tôi lấy làm tiếc vì điều đó.” Jobs ngỏ lời sẽ là người lắng nghe bất cứ khi nào Amelio cần thêm lời khuyên.

            2.2.2. Thực trạng về môi trường ra quyết định của Steve Jobs tại Apple giai đoạn từ 1997-2011

Steve Jobs là một trong những biểu tượng tối cao về sức sáng tạo, trí tưởng tượng, và nhất là phong cách lãnh đạo độc đoán của mình. Mặc dù vậy, để có được sự thành công như vậy, Jobs đã phải trải qua khoảng thời gian khó khăn khi gặp liên tiếp những khó khăn trong cuộc sống và sự nghiệp tại công ty Apple khi mới trở lại. Tuy nhiên, với tính cách của một người “đặc biệt” như Jobs, ông đã vượt qua hết mọi nghịch cảnh của môi trường quanh ông, biến nó trở thành điều kiện giúp ông phát huy hoàn toàn khả năng thiên phú của mình. Tiếp theo, chúng ta sẽ tiến hành tìm hiểu về thực trạng môi trường quản trị tại Apple trong giai đoạn 1997 – 2011 để có thể hiểu rõ hơn tác động của nó lên phong cách lãnh đạo của Jobs.

Thứ nhất, sự trở lại của ông năm 1997 là trong tình cảnh công ty đang trên bờ vực phá sản, công ty đang sản xuất máy tính và những thiết bị ngoại vi khác, bao gồm những phiên bản khác nhau của Macintosh. Bên cạnh đó, với sự điều hành của ban quản trị yếu kém đã khiến công ty mất đi nhiều kĩ sư và nhân viên quản lý giỏi. Tình hình lúc đó có thể khiến cho vị trí giám đốc điều hành của công ty như một vị trí “nóng” cho bất kì ai muốn vực dậy một công ty đang sa sút như Apple.

Thứ hai, về môi trường nhân sự, sự quay trở lại lần này, ông đã có sự chuẩn bị tương đối kĩ lưỡng, để có thể có được sự kiểm soát hoàn toàn công ty từ phần kĩ thuật đến sản phẩm. Ngay sau khi đến Apple đảm nhận vị trí cố vấn, Jobs đẩy những người ông tin tưởng vào những vị trí cấp cao ở Apple. “Tôi cần đảm bảo chắc chắn rằng những người thực sự giỏi đến từ NeXT không bị đâm sau lưng bởi những kẻ kém hơn đang giữ những vị trí cốt cán ở Apple,” Jobs đòi hỏi Ban chủ tịch của Apple. Đây là lý do Jobs để hai người đồng nghiệp thân cận của mình là Avie Tevanian và Jon Rubinstein nắm những vị trí quan trọng ở các bộ phận chủ chốt của công ty. Với Jobs, mọi vị trí lãnh đạo trong công ty lúc đó đều có thể ảnh hưởng đến quyền lực của ông, vì vậy việc thay đổi và triệt tiêu đi những mối hiểm họa này là cần thiết cho ông và công ty. Apple chỉ cần theo duy nhất một hướng phát triển của Steve Jobs và chỉ Steve Jobs.

Thứ ba, về môi trường quản trị cấp cao lúc bấy giờ, các cổ đông phần lớn đều muốn thoái vốn khi nhận thấy Apple đã bước tới thời kì sụp đổ. Ai cũng muốn cách bán đi các cổ phần mình đang sở hữu để tìm kiếm những khoản lợi nhuận cuối cùng, để mặc các vấn đề đang tồn động trong công ty. Ban quản trị bất ổn, khiến cho toàn công ty cũng trở nên không ổn định, điều mọi người quan tâm lúc đó chỉ là lương với tìm kiếm một công việc mới, mọi người đều tin rằng Apple sẽ phá sản. Nói chung, tình hình rất rối ren, ai cũng cố gắng lo cho lợi ích cá nhân của bản thân và quên đi hết mọi công việc ở Apple.

Thứ tư, trong giai đoạn này, Apple đang cho sản xuất khá nhiều sản phẩm. Công ty đã khai thác nhiều phiên bản của mỗi sản phẩm, ví dụ như với Macintosh, Apple cũng đã có hàng chục phiên bản. Việc sản xuất các sản phẩm này đều đến từ các nhà máy của Apple, từ bo mạch cho đến bàn phím, màn hình… khiến cho chi phí sản xuất ngày càng tăng cao.

Thứ năm, là việc các sản phẩm của Apple ngày càng bị cạnh tranh gay gắt từ các dòng máy tính khác, gặp khó khăn trong việc tiêu thụ sản phẩm. Ở các đơn vị kinh doanh bán lẻ, các nhân viên bán hàng không thể nào giải thích được cho khánh hàng phân biệt được sự khác nhau của các dòng máy Apple với các sản phẩm HP hay Dell. Điều này khiến cho khách hàng không lựa chọn các sản phẩm của Trái Táo vì giá quá cao, khiến cho doanh số ngày càng giảm sút trong khi các đối thủ lien tục gia tăng thị phần trên thị trường.

Thứ sáu, vào mùa thu năm 2005, trở về sau kỳ nghỉ bệnh, Jobs chọn Tim Cook – một người đồng nghiệp mà Jobs rất tin tưởng, trở thành giám đốc điều hành Apple. Tuy nhiên, trong giai đoạn này, Jon Rubinstein, phụ trách mảng phần cứng của Apple liên tiếp xung đột với Avie Tevanian và Steve Jobs về các ý tưởng sản phẩm và các lý do khách quan khác.

Thứ bảy, vào cuối những tháng cuối năm 2005 mức tiêu thụ iPod tăng vọt. Hai triệu chiếc iPod, một con số đáng kinh ngạc, được bán ra thị trường trong năm đó, gấp 4 lần so với năm trước. Sự ra đời của iPod đóng một vai trò quan trọng đối với mục tiêu của công ty, chiếm khoảng 45% lợi nhuận của năm, và một lần nữa, sự ra đời của nó cũng giúp đánh bóng thêm hình ảnh công ty và khẳng định vị thế của Apple trên thị trường giống như dòng máy Mac.

Tính cách Steve Jobs từ lâu đã nổi tiếng vì sự “đặc biệt” của mình, nhưng chính trong những hoàn cảnh trên, tính “đặc biệt” càng thể hiện rõ ràng hơn, là những khó khăn giúp ông có thể thể hiện được tài năng xoay trở của mình với phương thức lãnh đạo độc đoán mang thương hiệu của “Steve Jobs”. Cuộc đời Steve thăng trầm với nhiều sự kiện xảy ra đối với ông. Với quyết định quay trở về Apple, Steve Jobs đã khiến cho thế giới thêm một lần được nhắc tới ông như một vị thuyền trưởng vĩ đại, đã cứu cả một con tàu to lớn Apple tránh được những cơn sóng dữ. Với Steve Jobs, với Apple, cuộc sum họp lần này đều giúp cả hai đạt được những mong ước của mình. Trong phần tiếp theo, chúng ta sẽ tiến hành phân tích rõ hơn thực trạng môi trường trên đây đã ảnh hưởng như thế nào đến việc ra quyết định của Steve Jobs.

2.3. Phân tích thực trạng về phong cách lãnh đạo độc đoán của Steven Jobs tại Apple giai đoạn 1997-2011

2.3.1. Phân tích thực trạng tính cách của Steve Jobs tại Apple giai đoạn 1997-2011

2.3.1.1 Khái quát nguồn gốc hình thành nét tính cách của Steve Jobs

Tính cách là sự kết hợp giữa những thuộc tính tâm lý cơ bản và bền vững của con người mà những thuộc tính ấy biểu thị thái độ của con người đối với hiện thực và biểu hiện hành vi của con người. Để hiểu được những biểu hiện tính cách của Steve Jobs sau khi quay trở lại Apple, chúng ta sẽ đi sâu tìm hiểu nguồn gốc hình thành lên nét tính cách của ông thông qua xem xét môi trường sống và sự giáo dục:

Thứ nhất, tính cách của Steve Jobs xuất hiện một phần có nguồn gốc từ khuynh hướng nhìn thế giới theo hai cực khác nhau của Jobs. Một con người hoặc là một anh hùng nếu không chỉ là một gã khờ, một sản phẩm phải là tuyệt vời còn không chỉ là thứ rác rưởi. Do đó, trong ông luôn khao khát sự hoàn hảo và không chấp nhận những thiếu xót của nhân viện cấp dưới. Tuy nhiên ông cũng thường lúng túng với những vấn đề như: lập gia đình, mua một chiếc sofa phù hợp, cam kết điều hành một công ty.

Thứ hai, bị bỏ rơi và được lựa chọn. Đặc biệt, những khái niệm đó đã trở thành một phần con người Jobs và phong cách sống của ông.Chính tuổi thơ của Jobs với ý nghĩ mình bị cho đi làm con nuôi đã để lại những tổn thương trong ông nhưng lại cho ông sức mạnh vượt lên số phận và cuộc sống tự lập. Nên Jobs sớm trưởng thành và là con người không bao giờ chịu phục tùng với nghị lực phi thường. Steve lớn lên song song với cảm giác của một đứa trẻ bị bỏ rơi và sự quan tâm của cha mẹ nuôi làm cho ông cảm thấy mình trở nên đặc biệt. Điều đó đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành nên tính cách của Jobs. Chính vậy, ông luôn muốn là một người khác biệt hay thích những gì khác biệt, lạ thường.

Thứ ba, trước khi bắt đầu đi học cấp một, Jobs đã được mẹ dạy đọc. Tuy nhiên, chính những điều này đã khiến Jobs gặp một số rắc rối khi đến trường, ông không dễ dàng chấp nhận sự áp đặt và kiểm soát của thầy cô và nội quy nhà trường. Điều này cũng phần nào giải thích được tính cách khó chịu và cái tôi lớn của ông luôn xuất hiện trong mọi cách ứng xử tại Apple. Tuy nhiên, ngay từ nhỏ,  Jobs là một người rất thông minh và đã được các thầy cô giáo cũng như cha mẹ ông xác nhận.

Thứ tư, sau khi trở về từ Ấn độ, ông chịu ảnh hưởng nhiều bởi nền văn hoá này, từ tư tưởng của Phật Giáo, Đạo Hindu cho đến cách sống của người dân Ấn Độ đã làm Jobs khao khát đi tìm “bản ngã” của mình- ông tự hướng mình vào lối sống chậm rãi để có thể suy nghĩ tỉ mỉ vấn đề. Con người ông trở nên trầm hơn, hướng vào “trực giác” hơn là vào “lý trí”. Con người ông trở nền trầm hơn, khác so với thời đoạn ông sống lập dị trước đây nhưng nét tính cách yêu thích sự khác biệt, lạ thường vẫn còn tồn tại trong ông cho đến những giai đoạn sau này.

2.3.1.2. Phân tích thực trạng tính cách của Steve Jobs sau khi quay lại Apple

Trên cơ sở nguôn gốc hình thành nên nét tính cách của Steve Jobs, chúng ta kết hợp với thực trạng về tích cách của ông đã được trình bày để phân tích và làm sáng tỏ: tại sạo ông lại có tính cách như vậy ? và nó ảnh hưởng thể nào đến phong cách lãnh đạo của Steve? khi quay trở lại Apple.

Thứ nhất, khi quay trở lại Apple với vị trí là cố vấn cao cấp, động lực duy nhất của Jobs đó không phải là tiền tạc mà ông cần khẳng định mình và những nhu cầu cá nhân của ông hướng tới sự thỏa mãn khi tạo ra những thành tựu khiến người ta phải tôn thờ. Thực tế đó là một di sản kép: xây dựng những sản phẩm sáng tạo và phát triển một công ty trường tồn. Ông muốn được đặt ngang với những “tượng đài” như Edwin Land, Bill Hewlett và David Packard. Và cách tốt nhất để đạt được những điều đó là trở lại Apple và giành lại vị trí của mình. Khi ông trở lại, bắt đầu từ lĩnh vực nhân sự, ông bảo vệ và tuyển mới những kĩ sư đã cùng làm việc với ông ở Next và hầu như không quá quan tâm đến những vấn đề khác vì việc không đưa ông vào hội đồng quản trị đã tạo cho ông cảm giác không được tôn trọng. Với tính cách muốn kiểm soát mọi thứ đã làm ông cẩn trọng nhưng tạo thôi thúc mạnh hơn. Lý do ông loại bỏ Amelio ra khỏi vị trí điều hành của Apple không có gì bất ngờ với nét tính cách xem cái tôi của mình là trên hết của Jobs.

Thứ hai, Jobs không quyết định ngay khi được mời chính thức quay lại điều hành Apple- công việc mà ông khao khát hai thập kỷ, điều đó có thể giải thích bởi vì: với tất cả sự lì lợm và lòng tham vô độ trong việc kiểm soát mọi thứ, Jobs lưỡng lự và trầm lặng khi không chắc chắn về thứ gì đó. Ông khao khát sự hoàn hảo, và không giỏi trong việc tìm cách giải quyết những thứ thiếu hoàn hảo. Jobs không muốn vật lộn với sự phức tạp hay thỏa hiệp. Điều đó đúng với các sản phẩm, thiết kế và nội thất trong nhà. Điều đó cũng đúng với những cam kết cá nhân. Nếu ông biết chắc chắn một hành động là đúng, thì không ai có thể ngăn ông lại được. Nhưng nếu không thấy chắc chắn, ông đôi khi rút lui và không muốn nghĩ tới những thứ không hoàn hảo với mình. Giống như khi Amelio hỏi vai trò mà Jobs muốn tham gia, Jobs chỉ im lặng và bỏ qua những tình huống làm ông không thoải mái.

Thứ ba, cách đổi xử với mọi người rất nỏng nảy, cũng xuất phát từ sự yêu thích hoàn hảo, đơn giản, tính thế theo cách của Jobs. Ông không chấp nhận bất cứ sự không hoàn thiện nào ở các sản phẩm và trong các công việc khác. Do vậy, mỗi khi thực hiện họp bàn sản phẩm, ra mắt sản phẩm hoặc trình bày ý trưởng mới, Jobs luôn tỏ ra bực tức với những ý tưởng quá tầm thường hoặc quá phức tạp. Jobs dồn nén nhân viên của mình với công việc những cũng truyền cho họ cảm hứng sáng tạo bằng chính sự khao khát đổi mới, khác biết hoá của mình. “Trực giác” luôn cho ông nắm được tâm lý từng nhân viên của mình và biết điểm yếu của từng người, nhờ khả năng đặc biệt này đã giúp Jobs quản trị các nhóm thực hiện sản phẩm thực sự hiệu quả.

Thứ tư, Jobs còn có khả năng “nhìn xa, trông rộng” với sự thông minh, khả năng nắm bắt nhanh vấn đề kết hợp với bộ óc nghệ thuật của ông đã cho ra đời những sản phẩm tạo “xu hướng thời đại”, ông đã đưa đến người tiêu dùng những sản phẩm kết hợp giữ công nghệ và nghệ thuật từ lớp vỏ đến phần cứng cùng những ứng dụng đỉnh cao nhưng cực kì đơn gian. Khả năng nắm bắt “xu hướng” của Jobs có được là từ sự kết hợp rất nhiều nhân tố mà theo quan điểm của nhóm nhân tố quan trọng tạo nên đó là khả năng quan sát, phân tích, đánh giá vân đề rất tinh tế của Jobs.

2.3.2. Phân tích thực trạng môi trường ra quyết định của Steve Jobs tại Apple giai đoạn 1997-2011

Người xưa có câu “Thời thế tạo anh hùng” với ý nghĩa là hoàn cảnh khó khăn được tạo ra bao giờ cũng sản sinh ra các bậc vĩ nhân để có thể giải quyết được các vấn đề đó. Với trường hợp của Apple và Steve Jobs cũng vậy. Ai có thể dám chắc được nếu Steve Jobs vẫn ở lại NeXT, không quay lại Apple thì ông vẫn sẽ nổi tiếng trên toàn thế giới với những sản phẩm làm rạng danh tên tuổi của ông, những bài phát biểu giới thiệu sản phẩm đã trở thành tài liệu về phong cách diễn thuyết…

Như ta đã biết, Apple là công ty mà Jobs đã dành ra tâm huyết cả một tuổi trẻ để có thể phát triển nên. Vì vậy, tình yêu của ông đối với Apple cao hơn rất nhiều, so với NeXT lẫn Pixar. Để được quay về Apple, Jobs đành lòng bán đi Pixar và sát nhập NeXT vào chính Apple. Nói chung, tình yêu đối với Trái Táo khiến ông chấp nhận mạo hiểm lần nữa với cuộc đời và sự nghiệp của mình, chấp nhận tiếp quản vị trí lãnh đạo cao cấp của Apple với nhiệm vụ vực dậy công ty.

So với NeXT hay Pixar, Apple là nơi tập hợp khá nhiều tài năng và bề dày lịch sử phát triển huy hoàng. Đây cũng là một trong những lý do khiến ông quay lại Apple để có thể giúp ông phát huy hết được tài năng lãnh đạo của mình. Thời điểm đó, NeXT cà Pixar đã đi vào giai đoạn phát triển ổn định và đạt được liên tiếp thành công, còn Apple lại phải đương đầu với những khó khăn. Với tính cách ưa mạo hiểm và chứng tỏ bản thân, việc ông quay lại Apple để tìm kiếm khó khăn là điều có thể giải thích. Việc trở lại lần này, ngoài việc cứu vớt Apple – đứa con tinh thần của ông, mà còn giúp ông có thể khẳng định lại lần nữa tài năng lãnh đạo của ông. Tiếp theo, chúng ta sẽ tiến hành phân tích yếu tố môi trường đã có những ảnh hưởng như thế nào đến việc hình thành nên phong cách của ông trong giai đoạn này.

Thứ nhất, việc ông sắp xếp các nhân viên dưới quyền ở NeXT vào các vị trí quan trọng ở Apple, chứng tỏ ông đã có sự chuẩn bị tương đối kĩ lưỡng, để có thểkiểm soát hoàn toàn công ty từ  mảng phần mềm đến phần kĩ thuật.Với Jobs, mọi vị trí lãnh đạo trong công ty lúc đó đều có thể ảnh hưởng đến quyền lực của ông, vì vậy việc thay đổi và triệt tiêu đi những mối hiểm họa này là cần thiết cho ông và công ty. Apple chỉ cần theo duy nhất một hướng phát triển của Steve Jobs và chỉ Steve Jobs.

Thứ hai, với tình hình ban quản trị bất ổn, Jobs đã có hướng giải quyết nhanh và chính xác là định giá lại quyền mua cổ phiếu của họ. Cổ phiếu của Apple đã xuống thấp tới mức khiến quyền mua cổ phiếu trở nên vô giá trị. Mặc cho Ban quản trị phản đối, Jobs vẫn quyết tâm với ý định này. khi ông đã quyết định điều gì thì việc đó phải được thực hiện, và ngay lập tức.Thời gian lúc này ở Apple là yếu tố sống còn. Tuy nhiên, sau đó, Jobs cho giải tán đi bộ phận quản trị cấp cao của Apple, những con người chỉ chăm lo cho lợi ích bản thân chứ không quan tâm đến công ty Apple. Đây là sự khác biệt giữa Jobs với các nhà quản trị khác, ông không nhún nhường ai kể cả lãnh đạo cấp trên của mình. Với ông, công ty có vấn đề thì đầu tiên phải thay đổi Ban quản trị thì mới có thể giúp công ty ổn định tư tưởng.

Thứ ba, về việc định hướng lại sản phẩm cho công ty của Jobs, khi ông chỉ muốn tập trung cho hai phân khúc khách hàng mà ông quan tâm là bình dân và cao cấp. Đây là một điều cần thiết, giúp cho công ty có thể giảm bớt đi các sản phẩm trong danh mục sản xuất, đây đều là những sản phẩm có tính chất sử dụng tương đương nhau nhưng lại phân ra thành nhiều dòng máy, khiến cho công tác quản lý gặp khó khăn. Ngoài ra, với việc kiểm soát các công đoạn sản xuất của Apple cũng làm công ty gánh chịu các khoản chi phí lớn, ảnh hưởng đến lợi nhuận công ty. Jobs đã có quyết định là từ bỏ đi các sản phẩm không phù hợp, để đầu tư tập trung cho các sản phẩm chất lượng. Ông cũng đã áp dụng việc chuyên môn hóa trong quá trình sản xuất của Apple, thuê các công ty sản xuất các linh kiện theo đơn đặt hàng của Apple, giúp công ty giảm bớt được các gánh nặng chi phí sản xuất.

Thứ tư, khi gặp khó khăn trong công tác bán hàng, ông thể hiện được tài năng bán hàng và quản lý của mình. Ông cho giới thiệu các cửa hàng bán lẻ App Store, đây là các của hiệu bán hàng độc quyền của Apple cho các sản phẩm của công ty. Ngày 19 tháng 05 năm 2001, cửa hàng bán lẻ Apple đầu tiên khai trương ở Tyson’s Corner, bang Virginia với những quầy hàng màu trắng bóng loáng, sàn gỗ tẩy trắng và một tấm bích “Tư duy Khác biệt” khổng lồ. Đến năm 2004, các cửa tiệm Apple đón trung bình 5.400 khách mỗi tuần, doanh thu đạt 1,2 tỷ đô-la, lập một kỉ lục mới trong ngành bán lẻ. Việc khai trương App Store như một minh chứng nữa cho ý nghĩ của Jobs : kiểm soát các sản phẩm Apple từ việc ra ý tưởng, chế tạo về phần cứng cũng như phần mềm, giới thiệu, marketing và kể cả cung cấp sản phẩm đến tay người tiêu dùng. Đây là một sự khác biệt của Apple so với các công ty công nghệ khác như Microsoft (chủ yếu phần mềm) , IBM, HP, Dell (phần cứng)…

Thứ năm, là việc Jon Rubinstein bị đuổi việc, phụ trách mảng phần cứng của Apple bất đồng ý kiến với Jobs đã khiến Jobs bị xúc phạm và ông đã cho Jon nghỉ việc ngay lập tức. Tại Apple, không ai là không thể thay thế, nếu không cùng quan điểm với Jobs thì không nên ở lại Apple để làm việc.Jobs chỉ muốn làm việc với những con người có cùng quan điểm và biết đáp ứng những yêu cầu “lạ lùng” của ông. Apple là một công ty “đặc biệt”, tập hợp những con người “đặc biệt”, vì vậy người lãnh đạo nó cũng phải “đặc biệt” thì mới có thể quản trị công ty một cách tốt nhất.

Tóm lại, thông qua việc phân tích, chúng ta đã đi sâu lý giải được sự hình thành tính cách và làm rõ môi trường quản trị của Apple khi Steve Jobs quay trở lại. Chính tuổi thơ, hoàn cảnh gia đình và sự pha trộn nét văn hoá phương đông, văn hoá Mỹ đã tạo nên nét tính cách rất đặc biệt ở Steve. Trong khi đó, Apple sau nhiều năm dẫn đầu thị phần máy tính cá nhân với lợi nhuận lớn đã dần mất lợi thế cạnh trạnh trong ngành so với các đối thủ HP, IBM, DELL, nhiều nhân viên giỏi rời khỏi công ty, hàng tôn kho ở mức cao và sản xuất dàn trải. Do đó, khi nét tính cách và tính khí đặc trưng của Steve đặt trong môi trường quản trị bất ổn của Apple, hơn thế nữa sự khao khát đưa công ty do chính mình sáng lập trở thành công ty của sự sáng tạo và đẳng cấp, đã tạo nên phong cách lãnh đạo độc đoán.

2.4. Đánh giá thực trạng về phong cách lãnh đạo độc đoán của Steve Jobs khi lãnh đạo Apple giai đoạn 1997-2011

Phong cách lãnh đạo nào cũng có những ưu nhược điểm của nó, tùy thuộc vào thời gian không gian mà nó đem lại những kết quả khác nhau. Vì vậy, người lãnh đạo cần lựa chọn thích hợp cho mình phong cách phù hợp với môi trường để phát huy hết ưu điểm của phong cách đó, hạn chế đi những nhược điểm để có thể đạt được kết quả tốt nhất đối với công việc của mình. Đối với trường hợp Steve Jobs cũng tương tự, việc lựa chọn phong cách lãnh đạo độc đoán để điều hành ở Apple (giai đoạn 1997 – 2011) đã phát huy được những hiệu quả vượt mong đợi và phát huy khá tốt ưu điểm của nó. Điều này, giúp cho Jobs trở nên nổi tiếng với phong cách này. Trong phần này, chúng ta sẽ tiến hành đánh giá ưu và nhược điểm của việc Steve Jobs sử dụng phong cách độc đoán ở Apple giai đoạn 1997 – 2011.

2.4.1. Ưu điểm của phong cách lãnh đạo độc đoán khi được Steve Jobs áp dụng ở Apple

            Thứ nhất, phong cách lãnh đạo độc đoán của Steve Jobs rất thích hợp ở công ty Apple, nơi mà tập trung khá nhiều nhân tài về mọi mặt (kinh tế, kĩ thuật, nhân sự…) với nhiều tính cách khá lập dị và có cá tính. Sự độc đoán sẽ giúp công nhân viên công ty có được sự tập trung tư tưởng làm việc một cách ổn định.

            Thứ hai, khi công ty gặp khó khăn (giai đoạn 1996), hàng hóa ứ đọng nhiều. Tinh thần nhân viên giảm sút vì bị ảnh hưởng bởi tình trạng xuống dốc của công ty. Không khí làm việc căng thẳng ở cả ban quan trị lẫn đội ngũ công nhân. Để có thể giải quyết tình hình lúc này, yêu cầu người lãnh đạo của công ty cần có quyền lực tập trung để có giải quyết hết mọi vấn đề trong công ty. Đây là điều kiện thích hợp để Steve Jobs chứng tỏ được năng lực bản thân với tính cách rất phù hợp với phong cách lãnh đạo độc đoán.

            Thứ ba, phong cách lãnh đạo độc đoán của Steve Jobs giúp cho công nhân viên trong công ty có được sự áp lực cần thiết để hoàn thành công việc đúng thời hạn và đạt hiệu quả cần thiết, đôi khi tạo ra những thành quả vượt ngoài mong đợi. Ông giúp cho đội ngủ nhân viên đạt được đến những giới hạn của bản thân mà chính họ cũng không thể nào biết được. Khả năng động viên nhân viên của ông không biểu hiện một cách rõ ràng, mà chỉ là những cuộc trò chuyện một chiều, ý là bắt buộc họ thực hiện cho được những ý tưởng của Steve Jobs, dù ban đầu nghe có vẻ rất vô lý và khó thực hiện. Tuy nhiên, khi thực hiện được, đội ngũ nhân viên mới cảm nhận được rằng Jobs luôn đúng trong mọi quyết định, điều này khiến họ thêm phần thán phục vị thuyền trưởng tài ba của mình. Chính phong cách ngày càng giúp ông có được sự yêu mến và tin tưởng của nhân viên trong công ty, khiến cho công tác cải tổ và phát triển Apple được thực hiện nhanh chóng.

            Thứ tư, cách ứng xử của ông khi gặp chuyện khó khăn là rất quyết đoán, nếu không phải nói là hơi cực đoan. Ví dụ, khi gặp nhiều vấn đề ở các đối tác sản xuất linh kiện, ông đã ra quyết định ngưng hợp tác ngay lập tức chứ không cần đối tác giải thích trình bày lý do. Đối với ông, hợp tác phải dựa trên chữ tín, nếu không hoàn thành đúng yêu cầu về chất lượng cũng như thời gian sẽ phải kiếm nhà cung ứng khác. Điều này giúp cho công ty có thể đẩy nhanh tiến độ công việc và hoàn thành mục tiêu trước hạn và hoàn toàn chủ động trong việc kiếm đối tác sản xuất.

Cuối cùng, ưu điểm lớn nhất của Steve Jobs khi sử dụng phong cách lãnh đạo độc đoán ở tại Apple là việc ông đã ổn định được tình hình nhân sự của công ty. Công ty đã trở nên đoàn kết hơn, các bộ phận có sự ăn ý trong công việc, giúp cho mọi ý tưởng của Jobs trở nên thực tế hơn.

Do vậy, phong cách lãnh đạo độc đoán của Steve Jobs không giống bất kỳ định nghĩa nào về quản trị hay lãnh đạo. Ông điều hành tất cả mọi công việc trong Apple. Tuy nhiên, Stev Jobs chỉ thực hiện công việc theo cảm nhận và suy nghĩ của riêng bản thân ông. Điều đặc biệt này khiến ông trở nên đặc biệt.

2.4.2. Nhược điểm của phong cách lãnh đạo độc đoán khi được Steve Jobs áp dụng ở Apple

Với các phong cách lãnh đạo khác nhau, đều có những mặt ưu nhược điểm riêng, vì vậy các nhà quản trị cần có cách để hạn chế tác động của nhược điểm lên phong cách quản trị của mình. Với Jobs cũng vậy, ông cũng là một con người nên việc gây ra những sai lầm từ phong cách lãnh đạo của mình cũng là điều tất nhiên. Sau đây là những hạn chế của  phong cách độc đoán khi Jobs áp dụng ở Apple.

Thứ nhất, việc áp đặt những suy nghĩ của mình lên người khác của Steve Jobs và đưa ra những quyết định của bản thân mang tính độc đoán mà không bàn bạc và tham khảo ý kiến của bất kì ai, sẽ làm tăng tính rủi ro trong những quyết định, xác suất xảy ra sai lầm là rất lớn.

Thứ hai, việc Steve Jobs tự đưa quyết định và áp đặt ý kiến cho nhân viên khiến cho họ bất mãn và khó chịu vì ý kiến của mình không được tôn trọng. Hơn nữa, điều này làm cho họ cảm thấy nhà lãnh đạo không hiểu được tâm tư và nguyện vọng của họ, từ đó mối quan hệ giữa cấp trên và cấp dưới ngày càng xa cách. Nhân viên không còn hứng thú đóng góp ý kiến cho công việc. Hậu quả là công ty bỏ phí nguồn ý tưởng sáng tạo dồi dào từ nhân viên của mình.

Thứ ba, việc đòi hỏi quá khắt khe của Jobs trong công việc sẽ tạo áp lực lớn lên nhân viên, khiến nhân viên dễ xảy ra tình trạng bị stress, không khí làm việc lúc nào cũng đầy căng thẳng, nhân viên đôi lúc sẽ không có được một môi trường làm việc thoải mái, hiệu quả làm việc bị giảm sút.

Thứ tư, việc Jobs can thiệp vào tất cả mọi công việc từ việc lớn nhất đến việc nhỏ nhất khiến nhân viên cảm thấy khó chịu, không thoải mái. Hơn nữa, việc này cũng làm cho ông không có thời gian cũng như sự tập trung cần thiết để giải quyết những vấn đề quan trọng.

Cuối cùng, phong cách lãnh đạo độc đoán của Jobs làm cho ông có tầm ảnh hưởng quá lớn đối với Apple đến nỗi bất cứ một thông tin nào liên quan đến ông cũng dẫn đến một hệ quả rất lớn đối với công ty, chẳng hạn như sau khi nghe tin ông bị ung thư thì ngay lập tức giá cổ phiếu của Apple giảm xuống nhanh chóng…

CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP  HOÀN THIỆN PHONG CÁCH  LÃNH ĐẠO CỦA STEVE JOBS

Lãnh đạo là quá trình gây ảnh hưởng đến hoạt động của một cá nhân hoặc một nhóm nhằm đạt được mục tiêu định sẵn trong những điều kiện nhất định. Lãnh đạo cũng bao gồm khả năng lôi cuốn người khác theo mình, tạo ra mối ràng buộc giữa người với người, giữa người với công việc bằng sự quan tâm.

Để lãnh đạo, nhà lãnh đạo phải có khả năng thuyết phục và gây ảnh hưởng lên người khác để hướng họ đến những mục tiêu mong muốn.

Lãnh đạo là một khái niệm tưởng chừng đơn giản nhưng khi thực hiện thì lại vô cùng phong phú, phức tạp. Tùy thuộc vào năng lực, cá tính mỗi cá nhân khác nhau mà cách thức lãnh đạo cũng khác nhau. Tựu chung lại hợp thành phong cách lãnh đạo của từng cá nhân, đây là dấu hiệu đặc trưng của hoạt động quản lý của từng nhà lãnh đạo khác nhau.

Các phong cách lãnh đạo thông thường được đúc kết bao gồm:

- Phong cách lãnh đạo độc đoán là phong cách lãnh đạo chuyên quyền, theo chỉ thị của nhà lãnh đạo, nhân viên nhận lệnh và thi hành mệnh lệnh.

- Phong cách lãnh đạo dân chủ là phong cách lãnh đạo khi người lãnh đạo chia quyền lực bằng cách tham khảo ý kiến của cấp dưới, lắng nghe ý kiến của cấp dưới trước khi ra quyết định.

- Phong cách lãnh đạo tự do là khi nhà lãnh đạo cho phép cấp dưới của mình được tối đa quyền ra quyết định. Nhà lãnh đạo sẽ tạo điều kiện cho cấp dưới của mình để việc thực hiện của nhân viên được diễn ra suôn sẻ.

Một đại diện tiêu biểu của phong cách lãnh đạo độc đoán có thể kể đến đó là Steve Jobs. Để hình thành nên phong cách lãnh đạo như vậy phải kể đến các tác động khách quan và chủ quan như sau:

Thứ nhất về chủ quan, tính cách của Steve Jobs được mọi người cảm nhận chung nhất đó là tính cầu toàn, tinh tế và yêu thích sự sáng tạo. Ông luôn có yêu cầu cao đối với sự tỉ mỉ và sự sáng tạo trong công việc. Ông thường ép các thiết kế phải tuân theo cách nhìn của ông, cái mà ông quan niệm là hoàn hảo. Điều này trả lời cho câu hỏi các sản phẩm nổi tiếng như iPod, iPhone, iPad từ kiểu dáng bên ngoài, đến sự đồng bộ phần cứng và phần mềm đều thể hiện nét tinh tế, sáng tạo và sự khao khát. Một số tính cách khác của ông dẫn đến việc phong cách lãnh đạo của ông là độc đoán có thể kể ra như là rất dễ nổi nóng. Hay ông là một con người rất tham vọng và muốn kiểm soát mọi thứ, một người quyết đoán, một người cay độc và lạnh lùng.

Thứ hai, nguyên nhân khách quan dẫn đến phong cách lãnh đạo của Steve Jobs là việc khi ông trở lại năm 1997, công ty đang trên bờ vực phá sản. Do quá trình điều hành kém của ban quản trị trước đó, công ty đã mất đi nhiều kỹ sư và nhân viên quản lý giỏi. Tình hình lúc này đòi hỏi một giám đốc điều hành quyết đoán hơn.

Các quyết định quan trọng mà Steve Jobs đã phải ban hành ở Apple:

Ông sắp sếp các nhân viên thân cận vào các vị trí ở Apple, giúp ông có thể kiểm soát hoàn toàn công ty từ mảng phần mềm đến mảng kỹ thuật, nói chung là tất cả mọi thứ. Từ đây Apple chỉ được đi theo duy nhất một hướng phát triển của Steve Jobs.

Ông giải tán bộ phận quản trị cấp cao của Apple, những người chỉ lo tới lợi ích của bản thân chứ không phải công ty.

Ông định hướng lại sản phẩm mục tiêu để đáp ứng đúng thị trường mục tiêu, nơi mà ông nghĩ sẽ đem lại giá trị tối đa cho công ty.

Ông mở ra các cửa hàng bán lẻ khi tình hình bán hàng của công ty gặp khó khăn.

KẾT LUẬN

Từ phong cách lãnh đạo độc đoán của Steve Jobs, nhóm có một số nhận xét cũng như bài học về phong cách lãnh đạo này đối với việc ra quyết định như sau:

Thứ nhất, đối với một công ty có sự tập trung khá nhiều nhân tài như ở Apple, với sự đa dạng tính cách và cá tính mạnh mẽ, thì phong cách lãnh đạo độc đoán như của Steve Jobs cho thấy sự hiệu quả của nó. Giúp cho các nhân viên có sự tập trung tư tưởng tối đa để hoàn thành công việc của mình, hướng tới mục tiêu chung của công ty.

Khi mà không khí làm việc ở công ty đang có sự căng thẳng nhất định giữ nhân viên và đội ngũ lãnh đạo, thì cần một người cầm trịch và ra quyết định một cách quyết đoán, giải quyết hết tất cả các vấn đề trong công ty, không để cho quyền lực phân tán dẫn đến việc chia bè kết phái trong công ty có cơ hội phát triển.

Những quyết định dựa trên phong cách lãnh đạo độc đoán cũng phần nào đó là một áp lực vô hình đối với các nhân viên cấp dưới nhận chỉ thị. Và để họ tập trung trí lực, thể lực, tâm lực cho công việc hướng đến mục tiêu chung của công ty.

Bên cạnh những ưu điểm kể trên, vẫn còn đó những nhược điểm trong phong cách lãnh đạo độc đoán cần lưu ý khi áp dụng vào công ty như sau:

Việc áp đặt những suy nghĩ của mình lên người khác khi không bàn bạc kỹ lưỡng với người khác thì rủi ro sai lầm trong các quyết định là cao, đặc biệt nếu người ra quyết định không thực sự giỏi, không thực sự đủ tầm trong vấn đề cần ra quyết định đó.

Trong thời gian ngắn, thì việc áp dụng những áp đặt cho nhân viên có vẻ hiệu quả, nhưng theo thời gian, sẽ xuất hiện những bất mãn trong nội bộ nhân viên khi họ cảm thấy ý kiến của mình không được tôn trọng.

Những quyết định độc đoán đôi khi cũng kéo theo những áp lực khá lớn, tạo không khí căng thẳng đến nhân viên.

Người lãnh đạo theo phong cách này cần có một sức khỏe thực sự tốt, vì phải ôm vào mình rất nhiều việc, từ việc lớn đến việc bé trong công ty.

Trên đây là những ý kiến của nhóm về phong cách lãnh đạo của Steve Jobs và bài học rút ra từ phong cách lãnh đạo của ông. Dù sao đi nữa, không có phong cách lãnh đạo nào là hoàn hảo tuyệt đối. Vì nhóm cho rằng, phong cách lãnh đạo tốt là phong cách lãnh đạo phù hợp với thực trạng của công ty, phù hợp với con người và hài hòa đầy đủ các yếu tố thiên thời, địa lợi, nhận hòa. Việc lựa chọn phong cách lãnh đạo cũng là một vấn đề không dễ dàng cho các nhà quản trị công ty và thực sự cần được lưu ý đến./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Nguyễn Bá Dương (2014), Khoa học lãnh đạo lý thuyết và kỹ năng, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật.

[2] Trần Long Vân (2016), Nghệ thuật Lãnh đạo, NXB Chính trị Quốc Gia Sự thật.

[3] Nguyễn Đình Phong (2017), Khoa học lãnh đạo những kỹ năng và công cụ., NXB Chính trị Quốc gia Sự thật.

[4]  Nguyễn Văn Hùng (2020), Bài giảng, Nghệ thuật lãnh đạo.

[5] Diễn giải Phạm Tiến Dũng, Phong cách lãnh đạo.

[6] Trang web: tailieu.vn.

Thông tin đăng ký

Please, enter data

Các bài khác
Quảng cáo
Quảng cáo 4
Quảng cáo 2
Quảng cáo 1
LIÊN KẾT WEB
Trường Cao đẳng Công nghệ cao Đồng An Trường Cao đẳng Đại Việt Saigon Trường Cao đẳng Công nghệ Sàigon Trường cao đẳng Kinh tế đối Ngoại Trung cấp miền Đông Viện Công nghê và quản trị Á Châu Trường Đại học Công nghệ Miền Đông  Trường Đại học Vinh Trường cao đẳng Công Thương